Trần
Thượng Xuyên [4] và những thế hệ
người
Hoa đầu
tiên trên đất Nam bộ
PHAN AN
Ở quận 5 TP.HCM, có một di tích
văn hóa Lịch sử cấp quốc gia mang tên ''Minh Hương Gia Thạnh
Đ́nh'' tọa lạc số 380 đường
Trần Hưng Đạo. Đó là ngôi đ́nh của làng Minh
Hương, làng của những người Hoa
được thành lập sớm nhất trên đất
Nam bộ Việt Nam, ít ra cũng cách nay khoảng 250
năm. Trong đ́nh thờ nhiều vị thần linh và
những người có công gây dựng, bảo vệ
cộng đồng người Hoa như Trịnh Hoài
Đức, Ngô Nhân Tịnh, Nguyễn Hữu Cảnh... Trong
số các vị được thờ tự, tri ân đó
có cả Trần Thượng
Xuyên, một trong những người có công d́u dắt,
lănh đạo một nhóm người Hoa
từ Quảng Đông Trung Quốc đến lập
nghiệp mưu sinh trên đất Nam bộ Việt Nam vào
khoảng cuối thế kỷ XVll. Trước bàn thờ
ông trong đ́nh có đôi câu liễn chữ Hán như sau:
Sử tắc Bắc triều
thần, Công thường trinh trọng
Ninh vi Nam quốc khách, trúc
bạch chiếu thủy
Tạm dịch:
Triều Bắc thẹn làm
tôi, cương thường giữ vẹn
Nước Nam xin làm khách,
sử sách rạng danh.
Bài vị của ông trên bàn thờ
có ghi: ''Phụ Quốc Đô
Đốc Tướng Quân, Thắng Tài Hầu, Gia Phong Oai
Dịch Chiêu Đổng Hiển Linh, Trần Công
Thượng Đẳng Thần''.
Bài vị và câu liễn đă
thể hiện rơ phần nào về lịch sử' vai tṛ và
vị trí của Trần Thượng Xuyên đối
với người Hoa và vùng đất Nam bộ vào
thế kỷ XVll – XVlll .
Trần Thượng Xuyên là
thế hệ người Hoa đầu tiên trên đất
Nam bộ. Ông là người đă rời bỏ đất
nước Trung Hoa v́ lư do chính trị. Ông là một vơ quan
của vương triều Minh trung Quốc. Khi
vương triều Minh bị nhà Thanh lật đổ, mà
nhà Thanh vốn là một ngoại tộc trong cái nh́n của
người Hán đương thời, đă khiến cho
nhiều quan lại nhà Minh không chậu hợp tác, đành
rời bỏ Trung Quốc t́m nơi nương náu, ẩn
dật chờ thời. Trước đây một số
tư liệu thường nhấn mạnh đến lư do
''Phản Thanh phục Minh''của một số nhóm di dân
Trung Hoa t́m đến Việt Nam kiểu như Trần
Thượng Xuyên t́m đến Nam bộ. Theo tôi, trong
chừng mực nào đó, nhóm di dân Trung Hoa dưới
sự lănh đạo của Trần Thượng Xuyên và
Dương Ngạn Địch t́m đến Nam bộ vào
năm 1679, không hẳn hoàn toàn như vậy.
Thực ra nhóm lưu dân này
trước khi đến Việt Nam, đă có thời gian
lưu lại Đài Loan, lúc đó do Trịnh Thành Công
chủ xướng việc chống nhà Thanh hy vọng
trở lại lục địa. Khi thấy không c̣n hy
vọng ǵ vào sự gây dựng lại nhà Minh, khi các
cuộc bạo loạn chống lại nhà Thanh của Ngô
Tam Quế ở lục địa và của Trịnh Thành
Công ở Đài Loan đă đến hồi văn cuộc nên
Trần và Dương t́m đường tỵ nạn
chính trị trên đất Việt Nam. Lúc này, nhóm của
Trần và Dương đến Nam bộ t́m đất
mưu sinh là chính, chứ không hẳn v́ mục đích
phản Thanh, phục Minh''. Quả thực cho đến
nay, cũng chưa thấy có ư kiến nào lư giải tại
sao Trần và Dương lại chọn đất Việt
Nam để tá túc, mà không phải là một quốc gia nào
khác ở Đông Nam Á? Hoặc giả tại sao là xứ
Đàng Trong mà không phải là Đàng Ngoài. Về một
mặt nào đó, phía Bắc Việt Nam, xứ Đàng Ngoài
đương thời gần với Trung Hoa hơn và
thuận lợi hơn cho ư đồ, công cuộc
''Phản Thanh phục Minh''. Hẳn sự chọn lựa
của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn
Địch t́m đến Đàng Trong, đến vùng
đất Nam bộ không hoàn toàn ngẫu nhiên, mà có ư
đồ nhất định. Ư đồ chính, theo tôi là
sự chọn lựa vùng đất định cư và
mưu sinh lâu dài.
Trần Thượng Xuyên và
Dương Ngạn Địch là những thế hệ
cư dân đầu tiên của Người Hoa trên
đất Nam bộ, nhưng có lẽ chưa phải là
những người Trung Hoa đầu tiên t́m đến
Nam bộ. Rất tiếc những tư liệu về
những người Trung Hoa t́m đến định
cư ở Nam bộ đến nay vẫn chưa
đầy đủ và rơ ràng. Tuy nhiên theo tôi, trước
thời điểm nhóm người Hoa của Trần và
Dương đến Nam bộ hẳn có những
người Trung Hoa đă đến Nam bộ hoặc
xứ Đàng Trong. Không kể cuộc hành tŕnh của phái
bộ sứ thần Trung Quốc do Châu Đạt Quan
đă đi qua đất Nam bộ trên đường
đến kinh đô Vương quốc Chân Lạp vào
thế kỷ Xlll, th́ vào khoảng thế kỷ XVI - XVll,
hẳn đă có những thương nhân Trung Hoa đă
đến Nam bộ trong mối quanh giao thương
với xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn.
Ngay trường hợp
Mạc Cửu, một thương nhân người Hoa
cũng đă t́m đến vùng đất cực Nam Nam
bộ và Campuchia vào thời điểm 1671 trước khi
họ Trần và họ Dương đến Nam bộ
gần mươi năm. Họ Trần và họ
Dương trước khi dẫn hơn 3.000 lưu dân
Trung Hoa đến Nam bộ, hẳn đă có những thông
tin cần thiết về xứ Đàng Trong ở Việt
Nam và các vị đă có sự lựa chọn thích hợp.
Và thực tế sự lựa chọn đó về sau này,
cho thấy là những người lănh đạo đoàn di
dân đến Nam bộ năm 1679 là đúng đắn.
Đất Nam bộ đương thời là vùng
đất giàu tiềm năng kinh tế, có điều
kiện để những lưu dân Trung Hoa định
cư lâu dài, cũng như mở mang, phát triển. Hai bên,
những người lănh đạo xứ Đàng Trong và
những lưu dân Trung Hoa có những ư đồ và mục
đích tương hợp nhau, gặp gỡ và gắn
kết nhau để tồn tại và phát triển trên vùng
đất phương Nam Việt Nam.
* * *
Vào cuối thế kỷ XVll, trên vùng đất Nam
bộ Việt Nam đă h́nh thành ba trung tâm tụ cư
của người Hoa. Đó là vùng Biên Ḥa - Sài G̣n, với ṇng cốt là nhóm di
dân của Trần Thượng Xuyên. Trung tâm thứ hai là
vùng nằm từ bờ Bắc sông Tiền và sông Hậu mà
tập trung là ở Mỹ Tho và hướng về phía Tây
Bắc với các tỉnh Đồng Tháp, Vinh Long, Cần
Thơ... Khởi đầu trung tâm này là nhóm người
Hoa của Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến
chỉ huy tách ra từ đoàn di dân 3.000 người cùng Trần
Thượng Xuyên đến Việt Nam vào năm 1679. Trung
tâm tụ cư người Hoa thứ ba là khu vực Hà Tiên
và phía Tây sông Hậu. Nhóm người Hoa đầu tiên
đến vùng đất Hà Tiên do sự dẫn dắt
của Mạc Cửu, một thương nhân Quảng
Đông. Từa trung tâm ban đầu đó, người Hoa
tiếp tục nhập cư và mở rộng khu vực
cư trú ra hầu hết các vùng đất Nam bộ. Có
thể xem Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn
Địch, Mạc Cửu... và những lớp di dân
người Hoa đến Nam trong khoảng cuối thế
kỷ XVll - XVlll - là những thế hệ người Hoa
đầu tiên trên đất Nam bộ. Những thế
hệ di dân người Hoa đầu tiên này rơ ràng là
những người tiên phong~dũng cảm và ít nhiều
mạo hiểm khi lựa chọn vùng đất
định cư ở Nam bộ vào thời điểm
lịch sử lúc đương thời.
Hơn ba thế kỷ về
trước, vùng đất Nam bộ hăy c̣n bạt ngàn là
rừng rậm và đầm lầy, sông ng̣i chằng
chịt. Đó là một vùng đất đầy tiềm
năng, nhưng cũng đầy thách đố với
những người tiên phong khai phá bởi sự khắc
nghiệt của thiên nhiên hoang dă. Trần Thượng Xuyên
và những thế hệ di dân người Hoa t́m đến
đất Nam bộ đă phải đối diện và
khắc phục biết bao gian nan vất vả để
có thể kiến tạo cho một cuộc sống ổn
định, lâu dài. Tuy nhiên, những thế hệ
người Hoa đầu tiên này cũng gặp không ít may
mắn, thuận lợi trong việc khai mở mảnh
đất mưu sinh. Trước hết là sự gặp
gỡ của những di dân người Hoa với
người Việt và Khmer trên vùng đất Nam bộ.
Đó cũng là cuộc gặp gỡ của những
người nông dân, thợ thủ công, những kẻ
lưu lạc nghèo đói, đành phải rời bỏ quê
hương của người Việt ở Bắc
bộ, Bắc Trung bộ, của người Khmer ở
đầu châu thổ, phía thượng nguồn sông Mê Lông
thuộc đất Chân Lạp xưa. Những
người lao động nghèo khổ này đă t́m đến
Nam bộ để tạo dựng một cuộc sống
mới, mong mỏi thoát kiếp nghèo đói Chính cái thân
phận nhọc nhằn, khổ đau ấy đă kết
nối người Hoa, người Việt, người
Khmer cùng các tộc người anh em khác trên đất Nam
bộ từ thuở ban đầu Đó cũng chính là
sức mạnh cho người Hoa, người Việt,
người Khmer trong công cuộc chinh phục vùng
đất Nam bộ trong những thế kỷ tiếp
theo. Một ưu ái khác với những thế hệ người
Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ, đó là
những quy chế ưu tiên cho những lưu dân Trung Hoa
t́m đến và nhập tịch Việt Nam của các chính
quyền Nhà nước đương thời- chúa
Nguyễn cai trị xứ Đàng Trong và sau đó là
vương triều họ Nguyễn. Những lưu dân
người Hoa, được tự do đi lại,
tự do buôn bán, được tự do giao dịch
với người bản xứ và hơn thế nữa
được lấy vợ người bản xứ,
được sở hữu bất động sản...
Hơn hết là được Nhà nước khuyến
khích hội nhập vào cộng đồng cư dân
Việt Nam. Đó là việc cho phép. Người Hoa đă
trở thành công dân Việt Nam được lập làng Minh Hương, hoặc
làng Thanh Hà gần giống
như làng của người Việt đương
thời. Làng (xă) Minh Hương Gia ở Chợ Lớn
với ngôi đ́nh Minh Hương Gia Thạnh là một
dẫn liệu về chính sách của Nhà nước phong
kiến Việt Nam có phần ưu ái với người
Hoa. Mặc dù là những lưu dân mới đều từ
Trung Hoa trong thế hệ đầu tiên, nhưng Nhà
nước phong kiến Việt Nam, đương
thời là chúa Nguyễn và tiếp theo là các vua Nguyễn
đều rất quư trọng và tin tưởng ở
những đóng góp của người Hoa cho vùng đất
Nam bộ và xứ Đàng Trong nói chung. Chúa Nguyễn đă
phong chức tước cho Trần Thượng Xuyên xem ông
như một vị quan lớn của chúa Nguyễn ở
đất Gia định.Với Mạc Cửu và những
người kế nghiệp đă được chúa
Nguyễn phong tước chức cho quyền tự
quản trị vùng đất Hà Tiên... Những nhân tài
của các thế hệ người Hoa đầu tiên trên
đất Nam bộ, cũng đă được các chúa
Nguyễn, vua Nguyễn ưu ái tin dùng mà các ông Trịnh Hoài
đức, Ngô Nhân Tịnh là một dẫn chứng rơ nét.
Trịnh Hoài Đức là đời thứ ba, ông nội
ông sang cùng thời với Trần Thượng Xuyên. Cha
Trinh Hoài Đức đă trở thành quan chức của
chúa Nguyễn, c̣n bản thân Trịnh Hoài Đức là
một quan lại cao cấp dưới hai triều vua
đầu nhà Nguyễn...
* * *
Trần Thượng Xuyên và
những thế hệ đầu tiên của người
Hoa trên đất Nam bộ đă nhanh chóng hội nhập
vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam và đă có
những đóng góp tích cực trong công cuộc khai mở,
phát triển và ǵn giữ vùng đất Nam bộ. Những
tư liệu ghi chép trong các biên niên sử của nhà
Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí...
cũng như ghi chép của một số các tác giả
đương thời như Lê quư Đôn, Trịnh Hoài
Đức, Doăn Uẩn, Nguyễn Cư Trinh... cho thấy
những thế hệ người Hoa đầu tiên ở
Nam bộ có nhiều đóng góp tích cực trên nhiều
lĩnh vực.
Trước hết, là trên
lĩnh vực kinh tế. Sách Gia
Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức,
nhiều lần ghi lại việc người Hoa (c̣n
gọi là người Đường, người Thanh)
tham gia việc khai khẩn đất đai, lập
vườn, ruộng ở đồng bằng sông Cửu
Long. Người Hoa cũng tham dự vào việc đào các
kinh làm thủy lợi, giao thông như kinh Mă Trường
(Ruột ngựa) ở Gia Định, Kinh Vĩnh Tế
(An Giang)...
Đặc biệt, những
đóng góp của những thế hệ đầu tiên
của người Hoa vào đời sống kinh tế trên
vùng đất Nam bộ đó là hoạt
động thương mại và thủ công nghiệp. Ngay
từ những thế hệ di dân đầu tiên từ
duyên hải Nam Trung Hoa, nơi có hoạt động
thương mại khá sầm uất từ thế kỷ
XV - XVl, đă có không ít các thương nhân, cả những
thương nhân từng hoạt động ngoại
thương trên vùng Đông Nam Á như Mạc Cửu. Hoạt
động thương nghiệp là một thế mạnh
của người Hoa và khi đến Nam bộ, một
trong những công việc đầu tiên là lập các phố
thị, tổ chức kinh doanh buôn bán. Trần
Thượng Xuyên cùng những người di dân Trung Hoa,
đến Biên Ḥa, chẳng bao lâu sau đă thay đổi
một cù lao hoang, hóa thành một trung tâm thương măi
lớn nhất vùng Đông Nam bộ. ''Phố xá, mái ngói tường vôi, lầu cao quán
rộng, dọc theo bờ sông liên tục tới hơn 5
dặm. Đường phố chia thành ba hạng, phố
lớn lót đá trắng, phố ngang lót đá ong, phố
nhỏ lót gạch xanh. Đường phố bằng
phẳng rộng răi. Ghe thuyền lớn ở biển và
ở sông đến neo đậu san sát nhau. Ấy là
một chỗ đại đô hội, nhà buôn lớn
Đến giao dịch rất nhiều... Gia Định
thành thông chợ, cùng thời với Cù lao Phố ở
Biên Ḥa là cảng thị Mỹ Tho, cảng thị Hà Tiên,
rồi đến khu đô thị Chợ Lớn... Đó là
những trung tâm thương mại lớn ở Nam bộ
vào thế kỷ XVll - XVlll, mà phần lớn là công sức
của thế hệ di dân người Hoa đầu tiên
gây dựng nên. Hoạt động thương măi không
chỉ trong vùng, trong rước, mà mở rộng giao
thương với nhiều quốc gia trên thế
giới. Những hoạt động thương mại
của người Hoa đă góp phần làm cho vùng
đất Nam bộ, cũng như xứ Đàng Trong
thịnh vượng nhanh chóng. Mặt khác, với những
hoạt động thương mại này, đă góp
phần vào việc h́nh thành nền kinh tế mang lính
chất hàng hóa ở Nam bộ khá sớm.
Tiếp theo, những đóng
góp của các thế hệ người Hoa đầu tiên
ở Nam bộ, là mở mang và phát triển các hoạt
động thủ công nghiệp. Cũng giống như các
thương nhân, trong số di dân người Hoa
đến Nam bộ có không ít thợ thủ công. Vùng
đất Nam bộ thuở ban đầu khai mở đă
tạo điều kiện cho việc phát huy tài năng, tay
nghề của các thợ thủ công người Hoa. Dàu
vết của các hoạt động thủ công nghiệp
người Hoa vẫn c̣n đậm nét ở khu vực Sài
G̣n - Chợ Lớn. Ơ đó, đến nay vẫn
lưu giữ các địa danh Ḷ gốm, Ḷ rèn, Xóm
thiếc, Xóm chỉ, Xóm Vôi... Những địa danh này là
ghi dấu vùng đất đă tồn tại những
nghề thủ công của người Hoa có từ rất
sớm trên đất Nam bộ. Những hoạt
động thủ công của người Hoa đă sớm
trở thành việc sản xuất hàng hóa cung cấp cho nhu
cầu của người dân Nam bộ cũng như các
quốc gia lân cận. Nói đến nghề thủ công
của người Hoa trong buổi ban đầu trên
đất Nam bộ, không thể không nhắc đến
hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở miền Nam
Việt Nam là Đồng Nai và B́nh Dương (Biên Ḥa và Thủ
Dầu Một). Những thợ thủ công của
người Hoa đă sớm nhận ra tiềm năng
gốm sứ của hai địa phương này, có
đất sét tốt, có nguồn nhiên liệu dồi dào là
gỗ rừng và thuận đường giao thông...
Những thợ thủ công người Hoa đă xây
dựng các ḷ gốm sứ theo kinh nghiệm, cùng kỹ
thuật chế tác của Trung Hoa vào sản xuất các
sản phẩm gốm sứ đáp ứng nhu cầu
của người dân Nam bộ.
Những sản phẩm
gốm sứ của Biên Ḥa và B́nh Dương đă tạo
nên một phong cách đặc sắc trong văn hóa gốm
sứ củaViệt Nam và vùng đất Nam bộ. Đến
định cư ở Nam bộ, người Hoa đă
tạo dựng cho ḿnh một đời sống tinh
thần, một văn hóa Hoa ở Việt Nam. Ngày nay
văn hóa Hoa là một bộ phận cấu thành của
văn hóa các dân tộc việt Nam. Những lưu dân Trung
Hoa đến Nam bộ, trong hành trang của ḿnh, đă mang
theo một vốn văn hóa
trung Hoa, là một văn hóa lớn ở châu Á. Trong quá
tŕnh sinh tụ trên đất Nam bộ, người Hoa
một mặt tiếp nhận các ảnh hưởng
văn hóa của các cộng đồng cư dân như
Việt, Khmer. Mặt khác, văn hóa của người Hoa
cũng tác động và ảnh hưởng đến
người Việt, người Khmer và các dân tộc anh em
ở Việt Nam. Trên vùng đất Nam bộ, có thể
thấy khá rỡ nét
những ảnh hướng, kết quả của quá tŕnh
giao lưu văn hóa Hoa - Việt, Hoa - Khmer... mà ngay từ
những thế hệ người Hoa đầu
tiên đă đem đến vùng đất này. Sự giao
lưu văn hóa đó diễn ra trên nhiều mặt
của cuộc sống vật chất, tinh thần của
người dân Nam bộ. Hủ tiếu bánh bao, lẩu...
là món ăn của người Hoa, lay đă trở thành món
ăn quen thuộc của người Nam bộ. Nhà ở
kiểu h́nh ống cũng vốn của người Hoa
ở các đô thị Nam Trung Hoa, đă được
người Hoa phổ biến ở các đô thị
Việt Nam như Biên Ḥa, Chợ Lớn, Mỹ Tho...
Trong ngôn ngữ của
người Việt, Khmer đồng bằng sông Cửu
Long đă có sự đan xen tiếng Triều Châu, Quảng
Đông... thư cách xưng hô: Hia, Chế, Ỷ Trong
lĩnh vực văn hóa tinh thần, như tôn giáo tín
ngưỡng của người Hoa thờ trời,
thờ Bà Thiên Hậu, Quan Công... đă ảnh hưởng
khá nhiều đến các cư dân Nam bộ.
Phần nhiều các gia đ́nh
ở Nam bộ đều có bàn thờ Thiên trước
sân, thờ ông Địa, Thần Tài trong nhà, không ít nhà có
bàn thờ Ngũ hành nương nương, Bà Thiên
Hậu, Quan Công... Sân khấu
cải lương Nam bộ, theo một số nhà nghiên
cứu cũng chịu ảnh hướng của sân
khấu hát Quảng, hát Tiều cua người Hoa...
Những dẫn liệu về sự giao lưu, tiếp
nhận văn hóa của người Hoa, của các
cộng đồng cư dân Nam bộ, sẽ c̣n nêu ra
nhiều hơn nữa. Hơn
hết đó là sự đóng góp của những thế
hệ người Hoa cho sự thành tạo một nét
văn hóa Nam bộ của Việt Nam.
Một thực tế khác,
cũng không kém phần quan trọng khi đề cập
đến Trần Thượng Xuyên và những thế
hệ người Hoa đầu tiên ở Nam bộ, là
sự đóng góp của
người Hoa trong công cuộc bảo vệ vùng
đất Nam bộ, chống lại các thế lực
thù địch, xâm lấn. Vào khoảng thế kỷ XVll -
XVlll, vùng đất Nam bộ luôn bị đe dọa
bởi các thế lực phong kiến bên ngoài như Chân
Lạp, Xiêm La, Java... V́ vậy, chúa Nguyễn và nhà Nguyễn
rết coi trọng việc mở mang và pḥng thủ
đất Nam bộ. Việc chấp thuận cho một
bộ phận lớn di dân Trung Hoa đến sinh sống
ở Nam bộ, cũng nằm trong ư đồ của các
chúa và vua Nguyễn. Mặt khác, người Hoa định
cư trên đất Nam bộ cũng sớm nhận
thức được trách nhiệm của ḿnh, đoàn
kế~và góp sức cùng các dân tộc anh em để bảo
vệ, ǵn giữ vùng đất Nam bộ. Trần
Thượng Xuyên đă được chúa Nguyễn
nhiều tần giao việc chỉ huy quân đội ở
Gia Định, trong đó chắc chắn có không ít binh lính
là người Hoa, chiến đấu chống lại các
đội quân xâm Iược của Chân Lạp vùng biên
giới Nam bộ. Mạc cửu, MạcThiênTích cũng
phải nhiều lần trực tiếp chỉ huy quân lính
đương đầu với giặc Xiêm La, Chân
Lạp~iến công lấn chiếm là Tiên. Trong việc
ổn định và khẳng định chủ quyền
vùng đất Nam bộ trong lịch sử Việt Nam,
đă có nhiều đóng góp tích cực của người
Hoa, đặc biệt là những thế hệ
người Hoa đầu tiên trên đất Nam bộ,
thời Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu...
* * *
Trở lại phần
đầu bài viết, tôi muốn lưu ư về đôi câu
liễn trước bàn thờ Trần Thượng Xuyên
ở đ́nh Minh Hương Gia Thạnh Chợ Lớn. Câu
liễn ấy là của người đời sau, mà
chắc là người Hoa, cũng có thể là người
Việt và biết đâu là người lai hai ḍng máu Việt-
Hoa - Người Minh Hương như một số nhà
nghiên cứu quen gọi... Nhưng, cho dù thế nào, th́
hơn hết vẫn là người Nam bộ phẩm b́nh,
đánh giá công lao, sự nghiệp của Trần Thượng
Xuyên, hoặc rộng hơn là thế hệ của
những người Hoa tiên phong lập nghiệp trên
đất Nam bộ, một phần đất của
Việt Nam. Những người Hoa đành phải chua xót
giă từ đất quê để đến Nam bộ
lập nghiệp mưu sinh. ơ đây, họ đă t́m
thấy sự ổn định và nh́n thấy một
tương lai yên b́nh. Mong ước của Trần
Thượng Xuyên và những thế hệ người Hoa
đầu tiên ấy là trúc bạch chiếu thủy'' khi
''Ninh vi Nam quốc khách'', góp sức ḿnh vào ḍng lịch
sử nước Nam, nơi họ đă chọn làm quê
hương. ở thị xă Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, có
ngôi miếu cổ thờ Bà Thiên Hậu, một vị
thần mà người Hoa vượt biên tin rằng Bà
sẽ giúp họ được yên lành trên biến,
đến được bến bơ ømong mỏi. Ngôi
miếu, theo lời người dân đă có hơn 200
năm về trước, do những người Hoa quê
ở Triệu Khánh thuộc tỉnh Quảng Đông - Trung
Quốc vượt biển đến Rạch Giá - Hà Tiên
t́m đất sống. Trước cửa miếu có câu
đối:
Quảng giao di vực
Triệu tập đồng
nhân
(Hai chữ Quảng,
Triệu mở đầu các vế đối, ghi lại
tên vùng đất nguyên quán Triệu Khánh, Quảng Đông).
Tạm dịch:
Mớ rộng mối giao lưu nơi vùng đất
khác
Tập hợp những
người cùng như nhau.
(Chữ Triệu, vốn
nghĩa là mở đầu, ngay thẳng, nhưng ở
đây tác giả dùng âm với nghĩa là triệu tập,
tập hợp).
Theo tôi, câu đói ấy là
của những người Hoa trong những thế hệ
đầu tiên ở Nam bộ - thế hệ của Trần
Thượng Xuyên khẳng đ́nh về cuộc sống
của ḿnh trên đất Nam bộ: vừa mở rộng
mối quan hệ với các cộng đồng cư dân
Việt, Khmer và các dân tộc anh em ở Việt Nam, vừa
đoàn kết gắn bó giữa những người cùng
chung số phận, cùng chung công cuộc khai mở vùng
đất Nam bộ.
(Nguồn: sugia.vn)